Hỏi Đáp

Siêu âm trong phụ khoa và sản khoa: Siêu âm quí hai thai kì

Cvđ trong siêu âm thai là gì

Siêu âm trong sản phụ khoa: siêu âm tam cá nguyệt thứ hai

Người dịch: Lexi Jingjing

Sửa lại: bs h số nguyên tố

Giới thiệu

Mục đích chính của siêu âm giai đoạn giữa thai kỳ là xác định chính xác tuổi thai, kiểm tra hình thể thai nhi, vị trí bánh nhau và kiểm tra 2 phụ kiện. Bảng 5.1 phác thảo các bước cơ bản để sàng lọc trong tam cá nguyệt thứ hai và có thể thay đổi tùy theo điều kiện hiện có của hệ thống y tế khu vực và nhóm các quy trình quốc gia.

Bảng 5.1: Các bước thăm dò cơ bản khi siêu âm trong tam cá nguyệt thứ hai

Thai nhi và vị trí của thai nhi

Hoạt động của tim thai

Số lượng thai nhi (và nhau thai, nếu là đa thai)

tuổi thai/kích thước (chỉ số sinh học của thai nhi)

Thể tích nước ối

Hình dạng và vị trí của nhau thai

Giải phẫu cơ bản của thai nhi

Phần đánh giá

Lịch siêu âm tam cá nguyệt thứ hai:

Nói chung, siêu âm trong tam cá nguyệt thứ hai đề cập đến khoảng thời gian 14-28 tuần, nhưng trong phạm vi chương này, chúng tôi chỉ đề cập đến siêu âm B của 18-22 tuần trong tam cá nguyệt thứ nhất. vào thứ Hai. Ở những quốc gia mà người dân không được tiếp cận với hệ thống chăm sóc sức khỏe hoặc điều kiện thuận lợi để tiếp cận phòng khám siêu âm, cột mốc này có thể được kéo dài đến 16-25 tuần thông qua một bước điều tra tương tự. . Ở tuần thứ 16, việc đo hình thái thai nhi khó khăn hơn trong các tuần tiếp theo, đặc biệt khi sử dụng máy siêu âm xách tay hoặc ở phụ nữ béo phì. Mặt khác, việc xác định tuổi thai từ 25 tuần trở đi sẽ kém chính xác hơn nếu không siêu âm trước.

Ai có thể thực hiện siêu âm?

Theo quy định và phong tục địa phương, người siêu âm có thể là các đối tượng khác nhau. Ở một số quốc gia, một kỹ thuật viên sẽ thực hành siêu âm, sau đó sẽ được bác sĩ kiểm tra. Ở một số quốc gia khác, bác sĩ sẽ là người đầu tiên tiến hành siêu âm. Ở một số nơi, nữ hộ sinh thực hiện siêu âm cơ bản, trong khi bác sĩ thực hiện siêu âm ở các mốc quan trọng và các trường hợp đặc biệt. Cách tiếp cận thứ hai phù hợp với các quốc gia có nguồn lực hạn chế và thiếu nhân viên y tế. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, ở những nơi thiếu nhân lực, không có kỹ thuật viên siêu âm, nhân viên y tế chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân thì cần tổ chức các lớp đào tạo lý thuyết và thực hành siêu âm. Người hộ sinh được giám sát và đánh giá để có đủ kỹ năng cơ bản để thực hiện một số loại siêu âm cơ bản. Bất kể phương thức nào, nhân viên thực hiện siêu âm hình thái phải được đào tạo và phát triển kỹ năng cần thiết.

Ở nhiều quốc gia, có sự thống nhất thống nhất về các bước cơ bản và tiêu chí đánh giá đối với những người thực hiện loại kỹ thuật siêu âm này. Độc giả muốn tham khảo các hướng dẫn cụ thể và thang lương xin tham khảo trang web của Hiệp hội Siêu âm Hoa Kỳ (www.aium.org) và Tổ chức Sản phụ khoa Quốc tế (www.isuog.org).

Các bước chuẩn bị siêu âm:

Trước khi thực hiện siêu âm kiểm tra, người vận hành cần nắm được nguyên lý hoạt động của máy siêu âm, hoạt động cơ bản của máy và các kỹ thuật cơ bản được giới thiệu chi tiết trong các chương 1, 2 và 3. Bảng 5.2 mô tả danh sách các bước cần được xem xét trước bất kỳ siêu âm tạm thời nào.

Bảng 5.2:Danh sách các bước cần xem xét trước khi siêu âm trong tam cá nguyệt thứ hai.

Tư thế nằm của sản phụ phải đúng, giường nằm ngoài giờ phải thoải mái.

Chọn cài đặt sản khoa cho máy siêu âm

Điền tên mẹ và các thông tin khác vào máy

Sân điền kinh cuối cùng

Đắp gel lên bụng bệnh nhân

Điều chỉnh mức tăng sáng và tối cho phù hợp

Điều chỉnh độ sâu và vùng lấy nét của sóng siêu âm

Định hướng đầu dò chính xác trong quá trình siêu âm.

Trong trường hợp thiếu nhân lực, siêu âm quý 2 nên đơn giản hóa thành 6 bước chuẩn để tìm ra những vấn đề chính ảnh hưởng trực tiếp đến mẹ và thai nhi. Sáu bước này được thiết kế để đánh giá vị trí của thai nhi, vị trí của thai nhi, nhịp tim của thai nhi, số lượng thai nhi trong tử cung, lượng nước ối, vị trí nhau thai và tuổi thai. Ở đây, chúng tôi mô tả bước thứ sáu, liên quan đến các dấu ấn sinh học của thai nhi bao gồm đường kính lưỡng đỉnh, chu vi vòng đầu, chu vi bụng và chiều dài xương đùi.

Các chỉ số sinh học của thai nhi:

Các chỉ số sinh học liên quan đến tuổi thai và thời gian mang thai, còn kích thước liên quan đến cân nặng sẽ đề cập sau. Lưu ý: Không nên xác định lại tuổi thai khi đã có trên siêu âm trước đó. Nếu người phụ nữ chưa siêu âm lần nào trước đó, tuổi thai có thể được tính dựa trên các dấu ấn sinh học trong tam cá nguyệt thứ hai, mặc dù tính toán tuổi thai có thể dựa trên siêu âm trong tam cá nguyệt thứ hai, nhưng không nhiều như trong tam cá nguyệt thứ nhất Siêu âm hàng tháng chính xác dựa trên chiều dài hông. Nên tính tuổi thai theo chỉ số của tam cá nguyệt thứ hai trong các trường hợp sau:

Từ 14 tuần đến 15 tuần 6 ngày của thai kỳ, nếu chênh lệch tuổi thai vượt quá 7 ngày thì cần tính lại ngày dự sinh.

Khi thai đủ 16 tuần đến 21 tuần 6 ngày, nếu chênh lệch quá 10 ngày thì phải tính lại ngày dự sinh

Khi thai được 22 tuần đến 27 tuần 6 ngày, nếu chênh lệch quá 14 ngày thì phải tính lại ngày dự sinh

Bốn chỉ số sinh học dùng để tính tuổi thai hay ước lượng cân nặng cơ thể gồm đường kính lưỡng đỉnh (đkl), vòng đầu (cvĐ), vòng bụng (cvb), chiều dài xương đùi (cdxĐ).

Cách đo lường 4 chỉ số này sẽ được trình bày chi tiết ở các chương sau.

Đường kính lưỡng đỉnh:

Đường kính lưỡng đỉnh (Bảng 5.15.2) phải được đo trên mặt cắt ngang của đầu ngang mức đồi thị. Các mốc siêu âm cho lát cắt hai bên tiêu chuẩn được liệt kê trong Bảng 5.3 và đạt được trong Bảng 5.4. Trong một số trường hợp, đặc biệt là trong 3 tháng cúi chào cuối cùng, lk được đo ở mặt phẳng phía trước của đầu nếu đây là lựa chọn khả thi duy nhất.

hình 5.1: Mặt cắt chóp theo đường kính lưỡng đỉnh. Vách ngăn pellucida (csp), lưỡi liềm não (falx), đồi thị (t), tâm thất thứ ba (3v), thùy đảo (insula) và một phần của não thất bên cũng được ghi nhận trong quan điểm này. Điều này (bên v).

hình 5.2: Mặt cắt đôi trên cùng hiển thị đúng vị trí khi đặt con trỏ để đo. Lưu ý rằng các điểm trên và dưới của điểm đo lần lượt là đường viền bên của hộp sọ gần và đường viền trong của hộp sọ xa. (ga = tuổi thai – tuổi thai và efw = trọng lượng thai nhi ước tính – trọng lượng cơ thể ước tính).

Bảng 5.3;Các mốc giải phẫu siêu âm đo đường kính lưỡng đỉnh. Xem Hình 5.1

Trăng khuyết

Sheila

Sự tồn tại của hai cấu trúc bán cầu não

Không có tiểu não

Xem Thêm : Số hữu tỉ là gì? Tập hợp Q các số hữu tỉ – Toán học lớp 7

Tường trong suốt

Đảo

Bảng 5.4.:Quy trình đo đường kính hai trục (bpd)

Xem Hình 5.2

Nhập số đo sinh trắc trên máy siêu âm (nhấn nút Đo trên bàn phím).

Chọn bpd và tỷ lệ sẽ xuất hiện trên màn hình.

Vị trí của thước đo đầu tiên nằm trên đường viền bên của hộp sọ, tức là gần ngang với đồi thị.

Đặt con trỏ của thang đo thứ hai lên cạnh xa của hộp sọ và lưu ý rằng đường nối hai điểm vuông góc với đường giữa của hình lưỡi liềm của não.

Đảm bảo rằng đường kính lưỡng đỉnh là lớn nhất và vuông góc với đường giữa của hình lưỡi liềm.

Chu vi vòng đầu

Chu vi vòng đầu (cvĐ) được đo trên mặt cắt ngang của đồi thị, với cùng một hình dạng lưỡng cực (Hình 5.1 5.2). Có 3 phương pháp đo chu vi vòng đầu trên hầu hết các máy siêu âm: phép đo elip (Hình 5.3), phép đo 2 đường kính và phép đo chu vi vòng đầu vẽ tay.

Đo elip có thể điều chỉnh kích thước của elip quanh hộp sọ, thông thường đầu tiên chúng ta sẽ đặt một điểm đo cố định trên 2 đường kính chẩm 2 bên (đkĐc). Phương pháp đo 2 đường kính dựa trên 2 đường kính (dklĐ và dkĐc) và tính chu vi vòng đầu dựa trên công thức elip. Phương pháp đo thủ công chỉ đơn giản là vẽ chu vi của hộp sọ hiển thị trên màn hình. Trong ba phương pháp trên, phương pháp elip được sử dụng phổ biến nhất do sai số nhỏ. Tác giả khuyên bạn nên đo CVD theo đường kính lưỡng đỉnh. Phương pháp này cho phép máy sử dụng thước đo đường kính van hai lá. Lưu ý khi đo cvĐ, điểm đo dưới của bd cần dịch chuyển ra mép ngoài hộp sọ kèm theo để đo cvĐ. (Hình 5.4). Bảng 5.5 phác thảo các bước cần thiết để đo chu vi vòng đầu.

hình 5.3: Mặt cắt ngang đầu tại vị trí đo lưỡng đỉnh. Chu vi vòng đầu (cvĐ) được đo bằng phương pháp ellipsoid. Lưu ý hình bầu dục xung quanh mép ngoài của hộp sọ. (ofd=đường kính chẩm-trán: đường kính trán chẩm, ga=tuổi thai: tuổi thai, efw=cân nặng ước tính của thai nhi: cân nặng, ci=chỉ số đầu:

hình 5.4: Đo mặt cắt tại đường kính đỉnh đôi (dklĐ). Chu vi vòng đầu được đo bằng một hình elip. LƯU Ý: Vòng bầu dục bao phủ mép ngoài của hộp sọ và con trỏ bên dưới đo lvef nằm ở mép trong của hộp sọ.

bstrongng 5.5: Quy trình đo chu vi vòng đầu

Khởi động phần mềm đo chỉ số sinh học trên bảng điều khiển của máy siêu âm (nhấn phím đo), chọn hc, trên màn hình sẽ xuất hiện con trỏ của thanh đo.

Đặt kim đầu tiên của máy đo vào mép ngoài của đầu gần hộp sọ, tương tự như đo dl, và nhấn phím SET.

Đặt kim thứ hai của máy đo đối xứng qua đường giữa, trên mép bên của nền sọ phía xa và nhấn SET, trong trường hợp này, đường nối 2 điểm đo vuông góc với đường lưỡi liềm ở giữa .

Mở hình elip bằng cách xoay bánh xe cuộn trên cần điều khiển cho đến khi hình elip đi theo độ cong của hộp sọ.

Nếu hình elip không giáp với hình elip của phần đầu thì chúng ta cần định vị lại 2 con trỏ vì nó là trục của hình elip đã xoay.

Chu vi vòng bụng

Chu vi cổ tử cung (cvb) được đo trên mặt cắt ngang bụng trên của thai nhi. Bảng 5.6Hình 5.5 liệt kê các mốc giải phẫu siêu âm hữu ích trong việc xác định đường viền tiêu chuẩn của chu vi bụng.

bang 5.6: các mt /strong>strongstrongstrongstrongtrê của bạn mạnh>n siêuâm là măn t cÂt eo khoanh tròn bu ng:

Mặt cắt ngang bụng phải tròn (càng tròn càng tốt)

Các đốt sống phải được xem trên mặt cắt ngang.

Bụng bóng.

Tĩnh mạch rốn trong gan ngang mức tĩnh mạch cửa

Hầu hết các vòm sườn có thể được nhìn thấy cả hai bên.

Không thấy thận ở phần này.

image183

hình 5,5: mặt cắt ngang bụng chuẩn, có các mốc giải phẫu như trên hình, dùng để đo chu vi bụng. LƯU Ý: Túi khí dạ dày (st), tĩnh mạch rốn (uv), động mạch chủ xuống (ao) và tĩnh mạch chủ dưới (ivc), cột sống và tất cả các vòm bụng bên ở cả hai bên đều có thể nhìn thấy ở vị trí 3 giờ. (xương sườn)

Chú ý mặt cắt ngang bụng càng tròn càng tốt để tránh sai số do đo đạc. Điều này dễ thực hiện hơn trong tam cá nguyệt thứ hai so với tam cá nguyệt thứ ba, vì bóng ở tứ chi hoặc lưng có thể che khuất hình ảnh về vòng bụng tiêu chuẩn. (Hình 5.6). Chu vi vòng bụng được đo tốt nhất khi cột sống ở vị trí 3 giờ hoặc 9 giờ (Xem Hình 5.7 a và b). Tránh đo vòng bụng khi cột sống ở vị trí 6 giờ hoặc 12 giờ (Hình 5.6, 5.8 a và b). Số đo chu vi bụng được liệt kê trong Bảng 5.7.

hình 5,6: Vòng bụng đo theo mặt cắt ngang bụng trong 3 tháng trở lại đây. Lưu ý hình ảnh lưng (mũi tên chỉ) được tạo bởi các xương chi trên che khuất các đường viền của chu vi bụng ở cả hai bên. Cột sống ở vị trí 12 giờ sẽ hạn chế việc đo chính xác chu vi vòng bụng.

hình 5.7 a và b: Đồ thị đo chéo phần Chu vi bụng (ac). Xương sống của a nặng 9 g và xương sống của b nặng 3 g. Cột sống ở mức 9 hoặc 3 g thường dễ đo vòng bụng chính xác nhất vì nó ít bị bóng từ phía sau.

hình 5.8 a và b: sơ đồ mặt cắt vòng eo. Cốt toái bổ a 12g, b 6g. Cột sống ở mức 12g hoặc 6g là đường viền kém chính xác nhất để đo chu vi bụng vì nó làm tăng hình chiếu của lưng (a) và giảm khả năng đánh giá các giới hạn bên (mũi tên) (bảng a và b) vì nó làm giảm độ phân giải bên của siêu âm Beamed và có bóng sườn lưng.

bang 5.7: cac b c ththhien dendc strong>dstrong>o chu vi bstrongng (cvb)

Khởi động phần mềm đo chỉ số sinh học trên bảng điều khiển của máy siêu âm (nhấn phím đo), chọn ac, trên màn hình sẽ xuất hiện con trỏ máy đo.

Trên bề mặt da bên ngoài của bụng, ở phía bụng gần với đầu dò, gần vòng cung của xương sườn, cố định một con trỏ đo và nhấn nút SET để đo.

Đặt con trỏ thứ hai đối xứng ở phía đối diện của da, tạo thành một đường vuông góc với đường giữa và nhấn nút SET.

Mở hình elip bằng cách xoay bánh xe cuộn ở bên cạnh bàn phím cho đến khi hình elip bao phủ mép ngoài của da bụng.

Nếu hình elip không nằm ở mép ngoài của bụng thì ta cần chỉnh lại vị trí của 2 con trỏ vì nó là trục quay của hình elip.

Chiều dài xương đùi:

Để đo được chiều dài xương đùi chính xác nhất thì cần nhìn thấy toàn bộ thân xương, góc chùm tia siêu âm và thân xương đùi cần nằm trong khoảng 45-90 độ để tránh trường hợp đo chiều dài xương đùi không chính xác do sóng siêu âm bị lệch (Hình 5.9). Chiều dài xương dài nhất được đo khi con trỏ được đặt ở cả hai đầu của cơ thể cốt hóa, ngoại trừ đầu xa xương đùi (nếu có thể nhìn thấy) (Hình 5.10). Các phép đo xương đùi nên loại trừ các hình ảnh giả mạo, vì cựa xương có thể làm tăng chiều dài thân xương đùi một cách giả tạo (Hình 5.10).

hình 5.9: Hình cắt ngang xương đùi chuẩn nhất. Lưu ý rằng nhìn ngang thân xương đùi, góc giữa chùm tia siêu âm (hướng mũi tên) và trục của xương đùi gần như là 90 độ.

Xem Thêm : Khái niệm, cấu tạo và chất liệu bu lông đai ốc – Smart Việt Nam

hình 5.10: Cách đo chiều dài xương đùi. Lưu ý rằng hai con trỏ đo được đặt ở phần cuối của thân xương và xương đùi dài nhất có thể được đo cách xa đầu xa của xương đùi (mũi tên)

Cần lưu ý kỹ thuật đo chiều dài xương đùi sẽ khó hơn so với đo dv, cvĐ và cvb. Do đó, nên trì hoãn việc kết hợp chiều dài xương đùi vào quy trình siêu âm cơ bản cho đến khi người mới trở nên thành thạo hơn về siêu âm. Không nên sử dụng chiều dài xương đùi để tính cân nặng của thai nhi nếu quy trình này được sử dụng.

Cân nặng thai nhi ước tính

Sau khi có được 4 số đo trên, phần mềm siêu âm sẽ tính toán trọng lượng ước tính dựa trên phần mềm toán học. Công thức của Hadlock và cộng sự được phát triển vào những năm 1980 là công thức tính trọng lượng được sử dụng phổ biến nhất (1). Tính toán trọng lượng trong tam cá nguyệt thứ hai chính xác hơn trong tam cá nguyệt thứ ba, nhưng ứng dụng lâm sàng ít hơn. Trong tam cá nguyệt thứ ba, ước tính cân nặng của thai nhi là rất quan trọng để phát hiện tình trạng chậm phát triển hoặc thai to. Ước tính tuổi thai là không chính xác và có thể có sai số hơn 10% (2). Vấn đề này sẽ được thảo luận chi tiết trong chương tiếp theo.

Giải phẫu thai nhi cơ bản:

Mặc dù khảo sát hình thái thai nhi được các tổ chức trong và ngoài nước xác định là phần cơ bản của siêu âm sản khoa (3, 4) nhưng ở một số nơi còn thiếu nhân lực, thai kỳ nguy cơ cao, nguy cơ mắc bệnh cao và tử vong. Do đó, kiểm tra hình thái cơ bản của thai nhi thường không phải là quy trình siêu âm chính tại địa điểm này. Giải phẫu cơ bản của thai nhi được phác thảo trong chương này mang lại những lợi ích toàn diện và là quy trình siêu âm cơ bản được sử dụng ở nhiều quốc gia cho siêu âm trong tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba. , vị trí nhau thai trong tử cung, đánh giá nước ối, phần phụ cũng là một phần của quy trình siêu âm cơ bản, tất cả sẽ được trình bày trong các chương tiếp theo của cuốn sách. Bảng 5.8 liệt kê các giải phẫu cơ bản cần kiểm tra khi siêu âm trong tam cá nguyệt thứ hai.

Để biết thêm thông tin về hướng dẫn thực hành đối với siêu âm sản khoa cơ bản, hãy xem trang web của Viện Siêu âm Y học Hoa Kỳ (www.aium.org) và Tổ chức Siêu âm Sản phụ khoa Quốc tế (www.isuog.org) ( 3, 4) .

bang 5.8: các bw Khácstrongo sát hììt Mạnhnh thái hạnhcu strong>bstrongn trong ba cánguyenet thhai

đầu

Tâm thất bên, đám rối mạch máu, lưỡi liềm, vách trong, tiểu não, bể hố sau; môi trên và nếp gấp mũi má (giữa).

Ngực

Tim; góc nhìn bốn buồng, đường ra thất trái, đường ra thất phải và các cấu trúc phổi.

Bụng

Dạ dày (có hay không, kích thước, vị trí), thận, bàng quang, dây rốn cắm vào thành bụng thai nhi, số lượng mạch máu dây rốn.

Hệ xương

Cột sống cổ, ngực, lưng và xương cùng.

Các chi

tay và chân

Bánh

oi dịch

Tiểu mục

Giải phẫu đầu

Cần có ba mặt cắt siêu âm để đánh giá giải phẫu đầu: mặt cắt bên não thất (Hình 5.11), mặt cắt hai bên (Hình 5.2) và mặt cắt mặt cắt ngang sọ sau. Mặt cắt ngang của hố (Hình 5.12).

hình 5.11: Mặt cắt ngang đầu tại vị trí não thất 2 bên (lv). Các mốc giải phẫu trong phần này bao gồm tâm thất bên, vách ngăn trong suốt và não hình lưỡi liềm. Tâm thất bên được đo tại ngã ba não thất (dấu hoa thị). cp = choroid plexus: đám rối mạch mạc.

hình 5.12: Mặt cắt ngang hố sau. Các mốc siêu âm bao gồm tiểu não, bể hố sau và hố tiểu não.

mặt phẳng cchéotâm thất bên:

Phần này trình bày mặt cắt ngang của đầu thai nhi, qua 2 não thất bên (Hình 5.11). Các mốc giải phẫu trên các hình ảnh siêu âm tiêu chuẩn bao gồm: tâm thất bên, vách liên thất trong suốt và đường lưỡi liềm ở giữa (Hình 5.11). Theo quan điểm này, nên đo chiều rộng của điểm nối tâm thất-nhĩ đối bên (điểm nối của các góc trán, chẩm và thái dương, còn được gọi là ngã ba tâm thất hoặc ngã ba não. Rung thất), cách xa đầu dò ( Hình 5.11), vì tâm thất bên gần đầu dò sẽ bị bóng của hộp sọ gần đầu dò che khuất (Hình 5.11). Tâm thất bên nên được đo ở Hình 5.11 và thường nhỏ hơn hoặc bằng 10 mm ở bất kỳ tuổi thai nào. To não thất, được định nghĩa là đường kính não thất bên ≥ 10 mm, là bất thường não phổ biến nhất được chẩn đoán trước khi sinh (Hình 5.13). Phồng não thất thường liên quan đến nhiều bất thường não khác và có liên quan đến dị tật lệch bội, vì vậy nếu được phát hiện, nó cần được kiểm tra siêu âm toàn diện và tư vấn về các bất thường nhiễm sắc thể. Từ quan điểm này, cũng có thể phát hiện chứng thiếu não não, nguyên nhân là do não trước phân chia không hoàn chỉnh trong giai đoạn đầu của quá trình phân chia phôi thai (Hình 5.14a và b)). Vô não (anencephaly thường liên quan đến vô não) (Hình 5.15 a và b) và thoát vị (Hình 5.16 a và b), (dị tật khu trú khớp thần kinh – dị tật ống thần kinh ), cũng có thể được phát hiện trong chế độ xem này.

hình 5.13: Mặt cắt ngang não thất (lv) hai bên ở thai nhi giãn não thất hai bên. Lưu ý: tâm thất mở rộng (lv) và chèn ép vỏ não (c), đám rối mạch máu (cp).

hình 5.14 a vàb: tâm thất đơn trong 2 Phôi được quan sát trên mặt cắt ngang của đầu (a) và mặt trước (b). 1 tâm thất (dấu hoa thị) với đồi thị tích hợp (t). Lưu ý não giảm sản (cereb) trong bảng a (đây là một bệnh không điển hình não thất duy nhất.

hình 5.15 a và b: Cấu trúc đầu 2 Anencephalic bào thai (a và b). Lưu ý: Không quan sát thấy hộp sọ và nhu mô não bình thường.

hình 5.16 a và b: mặt cắt ngang đầu 2 thai nhi (a và b) bị thoát vị não (e). Lưu ý khiếm khuyết sọ mặt (mũi tên) ở vùng chẩm, vị trí phổ biến nhất của bất thường này. Mô não có thể được nhìn thấy trong khối nổi rõ trong cả hai trường hợp (E).

Mặt cắt ngang của hố sau

Mặt cắt ngang của hố sau, còn có thể được gọi là mặt cắt ngang của thân não, là một mặt cắt hơi nghiêng về phía hố sau (Hình 5.17). Ở góc nhìn này, có thể nhìn thấy tiểu não, bể hố sau, não thất thứ ba và thứ tư (Hình 5.17). Có thể dễ dàng cắt phần này bằng cách nghiêng đầu dò ra sau 45 độ so với chế độ xem hai đỉnh đồng thời tránh bóng sọ ở lưng.

Những bất thường phổ biến nhất được phát hiện trong chế độ xem này là sự bất thường của dáng đi bảnh bao (Hình 5.18), chứng loạn sản tiểu thùy não (Hình 5.19) và chiari bất thường ( Hình 5.20) (thường là đốt sống chẻ đôi). Thông thường, thoát vị chẩm sau nhỏ chỉ có thể nhìn thấy rõ ràng trên mặt cắt này. Nứt đốt sống (với chiari ii bất thường) (Hình 5.20,5.21 a và b) cần sinh mổ sau sinh để bù đắp khiếm khuyết tủy sống và đặt shunt Với ​​hệ thống não thất bị tắc.

hình 5.17: Mặt cắt ngang não (ngang-xiên). Hố sau chứa tiểu não và bể chứa lớn. Tâm thất thứ tư (4v) và tâm thất thứ ba (3v) cũng được quan sát trong chế độ xem này.

hình 5.18: Mặt cắt ngang tiểu não (dấu hoa thị) ở thai nhi có dị tật khung tập đi Playboy. Ghi chú: Không giãn tiểu não và hố sau (cm), nang bạch huyết vùng cổ (ch)

hình 5.19: Mặt cắt ngang tiểu não thai nhi loạn sản tiểu thuỳ (dấu hoa thị). Lưu ý: Không quan sát thấy các lá nhộng (cv) có độ nở lớn trong chậu (dấu hoa thị)

<3 (chiari ii) Lưu ý: Tắc nghẽn hố sau (cm) và hình thái tiểu não bất thường (mũi tên)

hình 5.21 a vàb: 2 phần dọc bào thai (a và b) có một đốt sống bị chẻ ở giữa cột sống. Lưu ý vị trí thắt lưng cùng của khuyết tật đốt sống (mũi tên)

Phần hai đầu

Các điểm mốc trên siêu âm giúp xác định chính xác mặt cắt hai bên được mô tả trong chương trước (Hình 5.2), bao gồm hình liềm não, vách ngăn trong suốt và đồi thị. Các bất thường được phát hiện trong chế độ xem này bao gồm não thất to (Hình 5.22a và b), não nửa người (Hình 5.14), thể chai (Hình 5.23) và loạn sản vách ngăn (Hình 5.14.5.24). Các bất thường nội sọ hiếm gặp khác như khối u có thể được phát hiện trong chế độ xem này. Đánh giá toàn diện hệ thần kinh trung ương đòi hỏi nhiều góc nhìn của não từ các mặt phẳng đứng dọc, chính diện và ngang trong và có thể được đánh giá bằng đầu dò bụng và âm đạo (nếu có thể). )

image215

hình 5.22 a vàb: mặt cắt ngang đầu Trong Thai nhi thứ 2, não thất hai bên (dấu hoa thị).

image217

Nguồn: https://playboystore.com.vn
Danh mục: Hỏi Đáp

Related Articles

Back to top button