Hỏi Đáp

Tâm thần học đại cương

1.1 Rối loạn tri giác

1.1.1 Các khái niệm chung

Nhận thức của con người là một quá trình từ nhận thức cảm tính đến lý tính, bao gồm cảm giác, tri giác, biểu tượng, tư duy, suy luận, phán đoán … Ý thức không thể tách rời các bộ phận khác nhau của quá trình thống nhất trên.

Trong tâm lý học y tế và tâm thần học, không hoàn toàn đúng khi quá trình nhận thức thống nhất được chia thành các phần để thuận tiện và đơn giản cho việc nghiên cứu. Do đó, các khái niệm riêng lẻ về cảm giác, tri giác, suy nghĩ, và nghiên cứu riêng biệt về các quá trình bệnh lý của chúng, cũng là những khái niệm rất tương đối. Nhưng ở một mức độ nhất định, những nghiên cứu trên đây đã phản ánh những đặc trưng cơ bản của quá trình nhận thức.

Bạn đang xem: Loạn cảm giác bản thể là gì

Cảm giác là sự phản ánh ý thức của con người, những thuộc tính riêng lẻ của hiện tượng khách quan tác động trực tiếp vào các giác quan. Ví dụ: màu sắc, mùi vị, âm thanh, v.v.

Nhận thức là sự phản ánh những sự vật khách quan thống nhất và hoàn chỉnh trong ý thức con người, cao hơn sự phản ánh của cảm giác

Cảm giác và tri giác đều là sự phản ánh trực tiếp và cụ thể những thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng khách quan. Cảm giác phản ánh các thuộc tính riêng lẻ, trong khi tri giác phản ánh tổng hợp các thuộc tính đó.

1.1.2 Rối loạn cảm giác

1.1.2.1 Giảm kích thích:

Dị ứng là sự gia tăng nhạy cảm với các kích thích tự nhiên (giới hạn dưới của các kích thích) mà không rõ ràng trong điều kiện bình thường. Ánh sáng bình thường cũng có thể làm cho bệnh nhân chóng mặt và các vật xung quanh trở nên sáng màu bất thường. Một âm thanh chói tai, tiếng gõ cửa như tiếng súng. Mùi trở nên nồng nặc, khó chịu …

Hiện tượng mê sảng thường gặp ở người bình thường trong trạng thái mệt mỏi quá độ, gắng sức nặng, hội chứng suy nhược thần kinh, một số bệnh thực thể cấp tính và biểu hiện ban đầu của bệnh. rối loạn tâm thần cấp tính. Sự phát triển này đi trước một số trạng thái mơ hồ nhất định.

1.1.2.2 Thuốc mê:

Giảm hứng thú là giảm khả năng nhận thức các kích thích tự nhiên (hay nói cách khác là tăng ngưỡng kích thích).

Mọi thứ bệnh nhân cảm nhận được đều mơ hồ, không rõ ràng, xa vời, như thể xuyên qua màn sương mù, mơ hồ và không chắc chắn.

Giọng nói yếu và thiếu cộng hưởng, giọng nói của những người xung quanh trở nên khó nhận biết và không ai biết …

Thường gặp ở trạng thái trầm cảm và tổn thương đồi thị.

1.1.2.3 Vô cảm về cảm giác thần kinh, thể dị ứng:

Rối loạn cảm giác thèm ăn là một cảm giác rất đa dạng, rất lạ và không thể diễn tả được, rất khó chịu và nặng nề ở bên trong. Người bệnh trở nên co thắt, nóng rát, đè nén, đau rát, chảy máu mũi, dựng đứng, ngứa ngáy… không xác định được nguyên nhân.

Chúng khác với chứng gây mê xuất hiện do các kích thích bệnh lý lan truyền dưới vỏ não vào vỏ não do xung lực tăng cường từ các thiết bị đầu cuối ngoại vi phân tích cảm giác

Không giống như giảm mê, hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất bị suy giảm trong khi vẫn bảo toàn được mức tối đa của hệ thống tín hiệu thứ hai. Mặt khác, vô cảm somansory là do sự ức chế của hệ thống thụ thể nội sinh nội sinh được kiểm soát quá mức.

Rối loạn cảm giác thần kinh thường gặp ở các hội chứng đáng ngờ và trạng thái trầm cảm.

1.1.3 Rối loạn tri giác

1.1.3.1 Ảo giác:

Ảo tưởng là nhận thức sai lầm về các sự vật, hiện tượng khách quan (bề ngoài các sự vật là có thật). Ví dụ: “trông giống như một con gà”

Người bình thường có thể bị ảo tưởng trong những trường hợp đặc biệt cản trở quá trình tri giác, chẳng hạn như: ánh sáng mờ, thiếu tập trung, mệt mỏi quá mức, lo lắng quá mức và sợ hãi. Ngoài ra, ảo tưởng thường gặp ở các trạng thái tâm thần.

Các loại ảo tưởng:

– Ảo tưởng cảm xúc:

– Ảo tưởng ngôn ngữ:

– ảo giác pareidolic:

1.1.3.2 Ảo giác:

Định nghĩa về ảo giác:

Ảo tưởng là nhận thức về các đối tượng không tồn tại trong thực tế khách quan. Ảo giác là nhận thức không có đối tượng.

Phân loại ảo giác:

Có nhiều phương pháp phân loại khác nhau cho ảo giác

– Bằng các giác quan: thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác và nội tạng.

– Theo kết cấu: ảo ảnh sơ cấp và phức tạp.

– Theo nhận thức và thái độ của bệnh nhân đối với ảo giác: ảo giác và ảo giác giả.

Loại ảo giác:

¨ ảo giác:

* Ảo giác thính giác (thính giác):

– Ảo giác chính (akoasm): tiếng ve sầu, tiếng vo ve, tiếng súng, tiếng chuông …

– Ảo giác nội tạng (âm vị): bệnh nhân nghe thấy các âm thanh khác nhau, nam hay nữ, tuổi tác, cường độ, âm thanh quen thuộc hoặc không quen thuộc …

– Nội dung ảo giác: rất đa dạng, có thể dửng dưng, đe dọa dự đoán điều xấu, châm chọc, cảnh báo, tiên đoán. Giọng nói có thể là cùng một giọng nói, nó có thể tự “gọi” hoặc có thể nói một mình, nắm tay hoặc tạo ra nhiều giọng nói về hành vi trong quá khứ, v.v.

-Voice có thể nói chuyện trực tiếp với bệnh nhân, hoặc nhiều giọng nói có thể nói về bệnh nhân, giọng nói có thể nhận xét (nhận xét bằng giọng nói ảo) hoặc ra lệnh buộc bệnh nhân phải thực hiện (giọng nói ảo). Lệnh) thường là những hành động nguy hiểm như nhảy khỏi tòa nhà, đâm xe, giết người …

Ảo giác thính giác xảy ra trong nhiều loại bệnh tâm thần khác nhau.

* Ảo ảnh quang học:

– Ảo giác thị giác thường gặp trong thực hành lâm sàng, chỉ xảy ra sau ảo giác thính giác và thường kết hợp với ảo giác thính giác.

– Ảo giác thị giác, chẳng hạn như rối loạn ý thức (mê sảng, ảo tưởng), thường xảy ra khi các quá trình tri giác bị chặn.

– Ảo ảnh quang học rất đa dạng: hình ảnh có thể sắc nét hoặc mờ; có thể là hình ảnh tĩnh hoặc chuyển động, thường thay đổi dưới nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như trên sân khấu hoặc màn hình (ảo ảnh kịch tính); các vật thể hoặc cơ thể có thể được tạo ra một hình ảnh cô lập của một phần (ảo giác đơn hình); có thể là một đám đông, một bầy động vật hoang dã, sinh vật kỳ dị (tất cả các loại ảo giác); hình ảnh có thể quá lớn (ảo giác vĩ mô) hoặc quá nhỏ (ảo giác vi mô), …

– Thái độ của bệnh nhân có thể là mê hoặc, sợ hãi, sợ hãi hoặc thờ ơ với tầm nhìn.

– Tạo ra ảo giác thị giác thường nằm ngoài tầm nhìn (ảo giác ngoài thị giác).

– Ảo giác thường gặp trong nhiều rối loạn tâm thần khác nhau: loạn thần cấp tính, say rượu, cai rượu, loạn trương lực cơ …

* Ảo ảnh xúc giác:

– Ít phổ biến hơn ảo giác thính giác và thị giác.

– Nội dung đa dạng: Đó có thể là cảm giác ngoài da như bỏng rát, châm chích, kiến ​​bò hoặc dị cảm nội tạng.

– Thường gặp trong hội chứng nghiện rượu, opioid hoặc cai nghiện; nghi ngờ hoang tưởng.

* Các loại ảo giác khứu giác và vị giác:

– Hiếm khi gặp trong thực hành lâm sàng và thường tồn tại chung với rác rưởi, mùi hôi thối, buồn nôn, v.v.

– Thường gặp trong các bệnh lý về não (u não, nhiễm độc …) tùy theo cơ địa.

* Ảo giác nội tạng:

-Nội dung phức tạp: bệnh nhân nhìn thấy các vật sống và dị vật trong cơ thể như đỉa trong tai, rắn trong bụng, ếch trong bụng …

– Khó phân biệt giữa ảo giác nội tạng và giảm mê soma. Cảm giác xôma là những cảm giác nặng nề, không đặc hiệu, ngược lại ảo giác luôn đặc hiệu và xuất hiện ở đâu đó trong cơ thể.

* Ảo giác đặc biệt:

– Ảo giác chức năng: Đồng thời với âm thanh thực bên ngoài cho đến khi nó ngừng hoạt động. Rất dễ nhầm với ảo giác. Ảo giác xảy ra khi có các kích thích thực tế. Ngược lại với ảo giác, sự phản chiếu của các đối tượng thực trong ảo giác chức năng không xen lẫn với các biểu tượng bệnh tật cùng tồn tại.

+ Metamorphopsia: Là một chứng rối loạn cảm giác tâm lý, cảm giác sai lệch về kích thước và hình dạng của các vật thể trong không gian. Những nhận thức sai lầm về đối tượng này thường đi kèm với những thay đổi về khoảng cách.

+ Ảo giác khi ngủ (ảo giác thôi miên): hình ảnh xuất hiện không chủ ý trước khi ngủ, khi nhắm mắt và ở những nơi tối. Không giống như các vật thể thực tế, những hình ảnh này rất đa dạng, kỳ dị và kỳ quái.

¨ Ảo giác giả (ảo giác giả):

. * Sai giọng:

+ Ảo giác giả là loại ảo giác giả phổ biến nhất trong thực hành lâm sàng.

+ Nội dung của giọng nói giả dối rất đa dạng, đặc biệt khi một số bệnh nhân cảm thấy suy nghĩ của họ đang được lắng nghe và bộc lộ.

+ Ảo giác giả là một thành phần chính của hội chứng tự trị và là tiêu chí chính của bệnh tâm thần phân liệt theo icd-10f.

* Ảo ảnh giả chuyển động:

Bệnh nhân tự coi hành vi của mình là hành vi đã sẵn sàng. Một số người sử dụng chân tay để làm việc gì đó nhưng họ không thể kiểm soát được lời nói của mình.

* Các loại ảo giác giả khác:

Hiếm gặp trong thực hành lâm sàng tâm thần.

1.1.3.3 Rối loạn tâm thần:

Rối loạn tâm thần tương tự như nhận thức sai lầm, nhưng chúng ổn định và dai dẳng hơn. Có hai loại rối loạn tâm thần.

Hiện thực hóa:

– là nhận thức sai lầm về một số thuộc tính cố hữu, như: kích thước, trọng lượng, màu sắc … của thực tại khách quan.

-dymorphopsia: Hình ảnh của những thứ siêu méo mó và bị bóp méo.

– Biến thái: Mọi thứ trở nên lớn hơn (macropsia) hoặc mọi thứ nhỏ hơn (micropsia).

Cá nhân hóa:

– là một rào cản bản đồ vật lý. Nhận thức của bệnh nhân về vị trí cơ thể là sai: cánh tay dài, mũi sau gáy, không có tim, cơ thể nhẹ như bông …

– Rối loạn cảm giác tâm thần thường gặp trong chấn thương sọ não, nhiễm độc tâm thần và say thuốc.

2.1 Các khái niệm chung

2.1.1 Hoạt động tình nguyện

-Là quá trình hoạt động tâm lý có mục đích, phương hướng rõ ràng, cần có sự cố gắng nhất định, khắc phục khó khăn trở ngại để đạt được mục đích. Hoạt động chỉ xảy ra ở con người.

– Hoạt động được thiết kế để đáp ứng các nhu cầu vật chất và xã hội (nhu cầu về đạo đức, tinh thần xã hội, trí tuệ và thẩm mỹ).

– Thông qua hành động ý chí, con người không chỉ có khả năng thích ứng với hoàn cảnh thực tế mà còn có khả năng thay đổi hiện thực cho phù hợp với xã hội loài người.

– Có thể nói, thực chất của hoạt động có ý nghĩa là con người chủ động cải tạo hiện thực để đáp ứng nhu cầu của bản thân và xã hội trên cơ sở hiểu biết các quy luật tự nhiên và xã hội. Vì vậy mọi người phải suy nghĩ và quyết định hành động của mình.

2.1.2 Hoạt động Bản năng

Xem thêm: Khớp gối kêu lục cục và đau là bệnh gì? Cách phòng ngừa

– là một hoạt động vô thức biểu hiện như một phản xạ bẩm sinh, không điều kiện.

– Các hoạt động bản năng nhằm đáp ứng nhu cầu sinh học (tồn tại và phát triển). Ở động vật chỉ có hoạt động này mới có chức năng duy trì sự sống của sinh vật và thích nghi với điều kiện môi trường.

– Hoạt động bản năng chiếm một vị trí không đáng kể trong đời sống và sinh hoạt của con người.

2.1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động tự nguyện của con người và hoạt động bản năng

—Hoạt động tự nhiên đôi khi rất mạnh và có thể chi phối hành vi của con người, đặc biệt là ở trẻ em. Nhưng ở người lớn, hoạt động bản năng luôn bị điều khiển bởi hoạt động theo ý muốn.

-Chỉ khi một người bị bệnh, vỏ não bị suy yếu, giảm hoạt động tình dục, vùng dưới vỏ được giải phóng và hoạt động bản năng xuất hiện hỗn loạn.

– Do đó, trong thực hành lâm sàng, bệnh nhân bị rối loạn vận động tự nguyện, cũng như rối loạn vận động bản năng.

2.2 Trục trặc

2.2.1 Rối loạn vận động

– giảm vận động, giảm vận động (hypokinesia): trong trạng thái lú lẫn.

– Mất khả năng vận động, mất khả năng vận động (rối loạn vận động): gặp ở các trạng thái nghỉ ngơi như rối loạn phân ly, rối loạn tâm thần, rối loạn căng thẳng …

– Tăng vận động, tăng vận động (tăng động): Các cử động tự động không mong muốn như rung cơ, giật cơ (chớp mắt, chớp mắt).

Tồn tại trong bệnh tâm thần phân liệt, bệnh tâm thần …

– Parakinesia: Các cử động không cần thiết, vô nghĩa và rõ ràng như rung đùi, lắc lư nhịp nhàng, nhìn chằm chằm, vẫy tay, xoa tai …

Thường gặp trong bệnh ttpl.

2.2.2 Rối loạn ý chí

¨ Giảm hoạt động: gặp ở bệnh trầm cảm, suy nhược.

¨ ADHD: gặp ở hưng cảm, nghiện ma túy …

¨ Mất hoạt động (không hoạt động): Thường liên quan đến mất tâm trạng, bệnh tâm thần, rối loạn căng thẳng.

2.2.3 Rối loạn vận động theo bản năng

2.2.3.1 Hành vi bốc đồng

Một hành vi đột ngột, dữ dội, vô cớ mà bệnh nhân không cân nhắc hoặc đấu tranh để tự kiểm soát.

– Bốc đồng phân liệt: Thường gặp ở trạng thái kích động thần kinh, hét lên đột ngột, đập phá, xé quần áo, đánh …

Bệnh nhân không có rối loạn ý thức và vẫn biết hành vi bốc đồng của mình vừa xảy ra, nhưng bản thân bệnh nhân cũng không hiểu tại sao mình lại làm như vậy.

– Cơn bốc đồng: Bệnh nhân đột ngột rơi vào trạng thái bất tỉnh (chạng vạng), chỉ chạy về phía trước, đập phá, tấn công mọi thứ, dù là đồ vật vô tri hay sinh vật sống, bất cứ thứ gì trong tầm tay, đại khái, thì có một Bệnh nhân. không nhớ những gì đã xảy ra.

– Chán nản: Tự tử đột ngột hoặc giết người thân rồi tự sát.

2.2.3.2 Xung kích bản năng

Rối loạn ăn uống:

– Không ăn uống: trong bệnh trầm cảm, tâm thần phân liệt.

-Anorexia: Chứng chán ăn tâm lý thường gặp. Bệnh thường gặp ở trẻ em gái vị thành niên.

-Buồn máu: Bệnh nhân cực kỳ đói và không biết ăn gì. Có thể biểu hiện đó là trạng thái “cuồng ăn”, vội vàng lấy thức ăn nhét vào miệng. Bệnh nhân có thể tử vong do chướng bụng cấp tính hoặc tắc nghẽn đường hô hấp trên (ngạt thở).

– khát (potomania): Khát nước liên tục, luôn uống mà không hết khát.

Xem thêm: Toán Văn Lý là khối gì? Có thể xét tuyển vào ngành nào?

– Ăn uống bẩn: Người bệnh ăn ngon miệng nhựa cây, tóc, phân gà, thạch xô …

-Fugue:

Tùy thuộc vào chu kỳ, một lần bệnh nhân rời khỏi nhà, văn phòng và nơi làm việc để đi du lịch xa. Người bệnh đi bộ không có mục đích, chỉ cảm thấy đi lại thoải mái.

– Trộm cắp (kleptomania):

– Pyromaniac):

– Giết người:

– Rối loạn chức năng tình dục:

-Có thể biểu hiện bằng việc giải phóng bản năng tình dục, chẳng hạn như cởi quần áo, cố gắng tiếp cận người khác giới.

– Có thể có nhiều hình thức đồi bại tình dục khác nhau như thủ dâm, đồng tính luyến ái, ấu dâm và ấu dâm. Động vật (zoophilia), …

– Chủ yếu là bệnh tâm thần, chẳng hạn như tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần, v.v., cũng có những tác động tiêu cực do thiếu giáo dục và môi trường thích hợp.

2.3 Hội chứng catatonic

Hội chứng này bao gồm hai trạng thái đối lập, bổ và bổ. Hai trạng thái này xuất hiện liên tiếp và thay đổi lẫn nhau.

2.3.1 Trạng thái căng thẳng.

2.3.1.1 Hội chứng tăng trương lực cơ

Thường xuất hiện đột ngột, không liên tục khi nghỉ ngơi.

Trạng thái kích động có nhiều dạng khác nhau, thường là theo kiểu liên tục sau đây.

+ Sốc và phấn khích kịch tính:

– Tình cảm: lúc đầu thích thú một cách hoang mang, thích thú.

– Trạng thái bối rối với tiếng cười quá khích, không tự nhiên hoặc vô cớ, nét mặt với người đối diện: miệng cười, mắt rưng rưng (hoang tưởng).

– Suy nghĩ: Bệnh nhân nói nhiều, nhưng hùng biện khó hiểu. Bởi vì ngôn ngữ của bệnh nhân được đặc trưng bởi cấu trúc phân liệt, ngắt quãng, trì trệ và tư duy tượng trưng nên rất khó hiểu.

– Chuyển động: Cũng thể hiện sự thiếu tự nhiên và phong cách.

– Các chuyển động thường xuyên bất thường, vô nghĩa, cố định, đơn điệu, rung đùi, lắc theo nhịp, nhìn chằm chằm, vỗ tay, gõ tai …

– Biểu hiện tiêu cực thường thấy (chủ nghĩa phủ định): Bệnh nhân phản đối hoặc phản đối một cách vô nghĩa.

Có hai loại phủ định:

. Chủ động từ chối: Người bệnh làm trái với những gì bác sĩ đã nói, chẳng hạn như: để anh ta mở miệng thì ngậm miệng, phản đối anh ta không được mở miệng. Khi cho thức ăn, anh ta quay đi, và khi anh ta lấy thức ăn, bệnh nhân ngậm lấy nó một cách ngấu nghiến …

. Phủ định bị động: Bệnh nhân không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

+ Sự phấn khích ngu ngốc, lố bịch:

– Tâm trạng: Từ ngây ngất, mê đắm và bối rối đến những trò đùa vô nghĩa (moria).

Ví dụ: Bệnh nhân làm bộ mặt vô nghĩa, cười vô cớ, đùa cợt …

– Suy nghĩ, hào hứng, nói nhiều theo cảm tính.

– Chuyển động, cảm xúc, trò đùa, nhào lộn, nhảy vào những người xung quanh, ném đồ đạc, xé quần áo và hành vi tiêu cực.

+ Sự phấn khích bốc đồng:

– Hành động: Nhảy ra khỏi giường đột ngột, chạy tại chỗ, vừa nhảy vừa la hét, chửi thề, xé quần áo, đập phá mọi thứ trên tay, khạc nhổ, bôi phân vào người. Ở mức độ nghiêm trọng hơn: hưng phấn, hỗn loạn, liên tục, điên cuồng. Người bệnh quăng quật, cào cấu, tự làm đau mình, liều lĩnh và tàn bạo, kéo người bệnh lại.

-Nhận xét: Bệnh nhân chống cự một cách vô lý khi cố gắng cho bệnh nhân ăn, uống thuốc, v.v. Họ thể hiện sự tức giận theo cách vô nghĩa, được gọi là phản ứng giả tạo cảm xúc

-Suy nghĩ: Suy giảm ngôn ngữ nghiêm trọng, với sự lặp lại (palilalia), lặp đi lặp lại (verbigeration) và các biểu hiện khác. Có thể có các triệu chứng bắt chước lời nói (tiếng vang) và bắt chước hành động của những người xung quanh (tiếng vang).

+ sự im lặng khó hiểu:

Các chuyển động ở giai đoạn này thay đổi theo nhịp điệu, giống như một điệu nhảy, một điệu nhảy giật dây. Trong trạng thái kích động này, bệnh nhân không nói, nhưng im lặng. (gọi là kích động im lặng hoặc im lặng).

2.3.1.2 Hội chứng bất động catatonic

Có thể bị bất động một phần và bất động hoàn toàn.

+ Không hoàn toàn cố định (bán cố định):

– Người bệnh ngày càng ít nói và ngồi một chỗ trong thời gian dài.

-Hiện tượng tạo hình, lặp lại một hành động nào đó.

– Có hiện tượng bánh răng, sau đó có triệu chứng giữ nguyên hình dạng (cứng) hoặc uốn sáp, bệnh nhân nằm ở tư thế định sẵn, đông cứng ở vị trí bất lợi, kỳ quặc của bệnh nhân. Đầu, tay và chân (giống như tượng sáp).

– Các triệu chứng đầu tiên của chứng uốn sáp xuất hiện ở cơ gáy của cánh tay và chân.

– Đồng thời bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng Pavlovian, một trạng thái nghịch lý.

– Nói giọng bình thường, bệnh nhân không đáp, im lặng trả lời.

– Đôi khi câu trả lời không được nói ra mà được viết trên giấy.

– Bệnh nhân bất động và im lặng vào ban ngày, nhưng vào ban đêm khi hoàn toàn yên tĩnh, bệnh nhân bắt đầu tập thể dục, ăn uống và đôi khi nói chuyện.

+ Bất động hoàn toàn (bất động tiêu cực):

– Bệnh nhân ở tư thế bào thai (tư thế gập bụng).

– Tăng trương lực cơ, căng cứng tất cả các cơ, nghiến chặt hàm, đôi khi có triệu chứng vòi trứng tự phát.

– Không trả lời câu hỏi, không phản ứng với môi trường xung quanh, thậm chí không phản ứng với tư thế của chính mình. Không có gì xung quanh có thể ảnh hưởng đến tình trạng bệnh nhân hôn mê, bất động hoặc thay đổi nét mặt như một bức tượng.

– Các kích thích chạm, châm cứu, nhiệt không gây phản ứng cho bệnh nhân. Người bệnh ít chớp mắt, nhưng vẫn chớp mắt theo phản xạ. Có các triệu chứng khó chịu như đau và dễ bị kích động, đồng tử không giãn ra.

Xem thêm: Mốt của dấu hiệu là gì?

– Ở trạng thái bất động hoàn toàn, bệnh nhân có biểu hiện phủ định rõ ràng, mọi can thiệp làm thay đổi tư thế của bệnh nhân đều cho kết quả ngược lại là tăng trương lực cơ.

Tóm tắt: Hội chứng bất động tăng trương lực âm thầm, thụ động và ưu trương. Nó xảy ra sau một cơn kích động hoặc một đợt bệnh. Hội chứng có thể kéo dài hàng tuần hoặc hàng tháng.

2.3.2 Các dạng căng thẳng lâm sàng:

Hội chứng tăng trương lực tổng quát (kích động và bất động) được chia thành tăng trương lực có ý thức và mê sảng.

2.3.2.1 Giọng điệu:

+ Trong thời gian tăng trương lực, ý thức của bệnh nhân vẫn tỉnh táo và sáng sủa. Bệnh nhân có đủ kiến ​​thức và chi tiết về các sự kiện xung quanh và có thể nhớ chính xác các chi tiết của những sự kiện này.

+ Trong quá trình kích động trương lực-clonic, các chất kích động bốc đồng chiếm ưu thế. Trong thời gian nghỉ ngơi, trạng thái hoàn toàn nghỉ ngơi (nghỉ ngơi tiêu cực) chiếm ưu thế.

2.3.2.2 Chứng ngủ rũ do mê sảng:

+ Có trạng thái ý thức mơ hồ (mơ). Bệnh nhân có nhiều rối loạn tâm thần. Nhận thức về môi trường xung quanh đã thay đổi. Sau khi bước vào trạng thái căng thẳng như mơ, bệnh nhân không nhớ sự kiện hoặc thời gian thực, nhưng nhớ rất chi tiết cảnh trong mơ (nội dung bệnh nhân ảo giác) rất chi tiết.

+ Giai đoạn không nghỉ của chứng ngủ rũ được đặc trưng bởi kích động và lú lẫn, trong khi giai đoạn bất động là trạng thái nửa bất động (bất động hoàn toàn) duy trì sự thống trị chiếm lĩnh không gian.

2.3.3 Một số hội chứng rối loạn chức năng khác

2.3.3.1 Hội chứng kích thích tâm thần:

– Hội chứng Đánh thức Thanh niên:

+ được tìm thấy trong ttpl, ở những người trẻ tuổi.

+ Kích động rất mạnh với các hiệu ứng ngớ ngẩn, hài hước, vô nghĩa, không tự nhiên như cười, đùa cợt thô lỗ, nhăn mặt, vu khống, nhảy múa, la hét và ngã, nằm ở tư thế kỳ quặc …

<3

– Hội chứng hưng phấn:

+ Xuất hiện trạng thái hưng cảm khi thể chất kiệt sức hoặc kèm theo bệnh tật hoặc nhiễm trùng.

+ Trên cơ sở rối loạn hưng phấn sẵn có, bệnh nhân tăng động, đột ngột …

– Hội chứng bồn chồn – Động kinh:

+ Xuất hiện đột ngột trong trạng thái lú lẫn (chiều tà) và rối loạn nhịp tim.

+ Các cuộc tấn công có thể kéo dài hàng giờ đến hàng ngày.

+ Hành vi của bệnh nhân vừa mang tính chất tự vệ, vừa là hung hãn (thường là do ảo giác đáng sợ và hoang tưởng bị khủng bố) nên thường có tính chất phá hoại, nguy hiểm cho xã hội.

+ Sau cơn, bệnh nhân quên hết những gì đã xảy ra.

– cuồng loạn:

+ Xảy ra sau chấn thương hoặc cảm xúc mạnh.

+ Người bệnh ở tư thế hăng say hoặc khom lưng, khua chân múa tay, xé quần áo, la hét, khóc lóc …

+ Hành vi dễ thấy.

+ Nhăn nhó, xót xa, thể hiện nội dung đau thương.

– Hội chứng Nhân cách Kích động:

+ xuất hiện do kích động ngoại sinh và định hướng tầm thường,

+ Người bệnh tự nhiên căng thẳng, dữ tợn, đấm đá những người đến can thiệp.

+ Không có rối loạn ý thức trong tình tiết.

2.3.3.2 Hội chứng suy nhược thần kinh vận động:

Hội chứng bất động trầm cảm:

Hội chứng phát triển dần dần. Người bệnh ngồi một tư thế cả ngày, mặt đau, rớm nước mắt, không ăn uống, sờ mó được. Không có cử động bất thường, rối loạn vô thức.

– Hội chứng bất động ảo giác:

Xuất hiện do ảo giác, nhận thức sai, ảo giác lạ. Đây là trạng thái ức chế vận động tạm thời. Vị trí của bệnh nhân tương ứng với hình thức và bản chất của ảo giác và nội dung của phản ứng cảm xúc. Không có rối loạn ý thức.

– Hội chứng bất động – Động kinh:

Xuất hiện đột ngột, trong trạng thái bối rối. Bệnh nhân mê sảng, cố định, nét mặt kém hoặc rối loạn nội dung cảm giác và phản ứng chậm với các kích thích bên ngoài. Trạng thái kéo dài từ vài giờ đến vài ngày.

– Hội chứng bất động sau những cảm xúc mạnh:

Xuất hiện sau một cảm xúc mạnh và bất ngờ. Bệnh nhân hoàn toàn bất động và giữ nguyên tư thế. Bệnh nhân không nói được, rối loạn sinh dưỡng: vã mồ hôi, mạch, xanh xao, phân lỏng … không rối loạn ý thức,

– Hội chứng bất động cuồng loạn:

Xuất hiện do chấn thương tinh thần, đôi khi không quá dữ dội. Bệnh nhân ngã từ từ, bất động hoàn toàn, trẻ con, hạ thân nhiệt, tư thế kỳ quặc, nét mặt cứng đờ, sợ hãi và buồn bã, thường im lặng, không nói được lời, không tỉnh táo và không có hoạt động gì bất thường. Trạng thái này biến mất khi hoàn cảnh đau thương biến mất. Rối loạn chú ý

3.1 Các khái niệm chung

Triết học và tâm lý học cũng có những khái niệm khác nhau về ý thức. Trong tâm thần học lâm sàng, ý thức được hiểu theo nghĩa hẹp. Chủ yếu ở đây là mức độ tinh thần minh mẫn và tỉnh táo, mức độ nhận thức của bệnh nhân về bản thân và mối quan hệ của anh ta với môi trường xung quanh.

Tiêu chí để đánh giá nhận thức được thể hiện qua khả năng định hướng của bệnh nhân, bao gồm:

– Định hướng Môi trường: Định hướng Không gian, Định hướng Thời gian,

– Điều hướng.

– Định hướng bản thân

3.2 Suy giảm ý thức.

3.2.1 Hội chứng loại trừ ý thức:

Đây là những rối loạn ý thức không có rối loạn tâm thần. Đây là sự suy giảm ý thức về số lượng. Tiêu chí đánh giá mức độ rối loạn ý thức dựa trên:

+ Khả năng định hướng.

+ Rào cản phản xạ.

+ Các bệnh nội tạng (tim mạch, hô hấp …).

– Mức độ rối loạn ý thức:

Từ nhẹ đến nặng, các triệu chứng là:

+ Chán nản.

+ Buồn ngủ.

Xem thêm: Top 9 Dầu Gội Bồ Kết được Review Tốt Nhất chị em ưa chuộng – TopAZ Review

+ Hội chứng bán hôn mê (tiểu sản).

+ Hội chứng hôn mê (Coma).

-Một danh mục khác:

+ pháp quan.

+ Hôn mê thực sự có 3 cấp độ:

– Hôn mê nhẹ (bán hôn mê, hôn mê độ 1).

– Gây choáng vừa phải (choáng rõ ràng, choáng cấp độ 2).

– Hôn mê sâu (hôn mê nặng, hôn mê độ 3).

– Đánh giá mức độ rối loạn ý thức:

Rối loạn ý thức mở rộng được đánh giá theo Thang điểm Glasgow (1974). Số điểm là 15 điểm.

3.2.2 Hội chứng nhầm lẫn

Đó là những suy giảm nhận thức đi kèm với rối loạn tâm thần.

– Hội chứng mê sảng:

Đây là một rối loạn ý thức phát triển cấp tính.

Mất phương hướng và các rối loạn tâm thần khác được đặc trưng như sau:

+ Mất phương hướng:

– Mất tích về ngữ cảnh, thời gian và không gian.

– Tính năng tự định vị vẫn tồn tại.

+ Suy giảm khả năng nhận thức:

– Bệnh nhân có nhiều rối loạn tri giác như ảo giác lạ và ảo giác, đặc biệt là ảo giác thị giác.

– Người bệnh thường xuyên nhìn thấy côn trùng, những sinh vật rất nhanh nhẹn.

– Cũng có thể là những cảnh kiên nhẫn, những hình ảnh tuyệt vời, sống động, rùng rợn, đáng sợ.

– Trong khi đó, bệnh nhân lắng nghe những lời đe dọa và mệnh lệnh.

+ Rối loạn tư duy:

– Bệnh nhân có thể bị ảo tưởng giác quan.

Xem thêm: Trẻ bị sốt chân tay lạnh đầu nóng mẹ phải chăm sóc làm sao?

– Hoang tưởng có tính chất từng đợt, liên quan đến ảo giác và có thể thay đổi.

+ Rối loạn tâm trạng:

Rối loạn tri giác khiến bệnh nhân căng thẳng, sợ hãi và hoảng loạn.

+ Rối loạn hành vi:

– Bệnh nhân phản ứng tích cực với những hình ảnh về ảo giác và hoang tưởng, chẳng hạn như bắt động vật và đẩy lùi những con quái vật đáng sợ tấn công họ.

– Để tự vệ, họ chạy vào sân, chui xuống gầm giường và ném vào kẻ thù tưởng tượng …

– Hành vi hung hãn và nguy hiểm.

+ Suy giảm trí nhớ:

– Sau cơn mê sảng, bệnh nhân bị mờ trí nhớ, từng mảng giữa giấc mơ và cảnh thực.

– Nói chung, hội chứng mê sảng thường trầm trọng hơn vào ban đêm và ban đêm.

– Thỉnh thoảng xuất hiện lại những giai đoạn tỉnh táo và minh mẫn ngắn ngủi.

– Bệnh nhân hiểu môi trường xung quanh, trả lời chính xác các câu hỏi và đánh giá đúng sức khỏe của bản thân.

– Hội chứng mê sảng có thể kéo dài 2-3 ngày, đôi khi 7-8 ngày, là hội chứng điển hình của hội chứng bệnh truyền nhiễm và nhiễm độc

– Hội chứng ác mộng (Hội chứng oniric):

* Đặc điểm của hội chứng ảo tưởng:

+ Đây là một trạng thái rối loạn ý thức, trong đó bệnh nhân dường như đang sống trong mơ và sống thực.

+ Hình ảnh phản chiếu của bệnh nhân cho thấy sự pha trộn kỳ lạ giữa hình ảnh thế giới thực và hình ảnh kỳ quái và thần thoại xuất hiện từ ý thức.

+ Có thể nói, hội chứng hoang tưởng xuất hiện là một chứng hoang tưởng kỳ quái về mặt thị giác.

+ Bệnh nhân thấy hoang tưởng.

– Hội chứng nhầm lẫn:

Đây là một rối loạn ý thức nghiêm trọng. Hội chứng này đặc trưng bởi trạng thái lú lẫn, lú lẫn, suy nghĩ rời rạc, không tiếp cận được.

+ Mất phương hướng: Mất phương hướng nghiêm trọng về môi trường xung quanh và bản thân.

+ Suy giảm khả năng nhận thức:

-Bệnh nhân chỉ có thể cảm nhận được những vật thể rời rạc bên ngoài và không thể tổng hợp chúng.

– Các vật phẩm thường được đưa cho bệnh nhân mà bệnh nhân không xác định được mục đích của chúng.

– Đôi khi có một ảo tưởng sơ bộ.

+ Rối loạn tư duy:

– Tư duy rời rạc, là tập hợp của mọi từ và mọi nhịp điệu được thể hiện trong lời nói của bệnh nhân.

– Thường thấy sự lặp lại và lặp lại.

+ Rối loạn tâm trạng:

-Không ổn định về mặt cảm xúc.

– Khi cười, khi khóc, khi thờ ơ, khi chán nản.

– Thường thể hiện sự bàng hoàng, bối rối.

+ Rối loạn hành vi:

– Người bệnh hoàn toàn bất lực trước mọi vấn đề.

– Sự phấn khích hay sự phấn khích cũng đơn điệu, chỉ bó hẹp trong chiếc giường.

– Các cử động của bệnh nhân cũng không mạch lạc và vô nghĩa.

– Ném xung quanh, lắc lư, cúi người, vặn người, dang rộng cánh tay …

+ Suy giảm trí nhớ:

– Sau cơn mê, bệnh nhân quên hết mọi thứ.

-Khi hội chứng mê sảng nghiêm trọng, nó có thể chuyển thành trạng thái giống như catatonia.

– Khi tình trạng lú lẫn thuyên giảm, bệnh nhân trở nên trầm lặng và ít nói hơn, nhưng ý thức không trở lại sáng sủa như trong hội chứng mê sảng.

– Bệnh nhân suy kiệt rõ rệt và ức chế tinh thần.

– Mê sảng kéo dài hơn 3-4 tuần so với mê sảng.

– Vì bối rối, bệnh nhân trầm cảm rõ rệt trong một thời gian dài

– Hội chứng mê sảng là hội chứng phổ biến nhất trong các bệnh truyền nhiễm, nhiễm độc và não.

– Hội chứng chạng vạng (hội chứng crepusculair):

Hội chứng hoàng hôn là một trạng thái ý thức hẹp, nửa tối. Hội chứng này xảy ra đột ngột, kéo dài trong một thời gian ngắn và kết thúc đột ngột.

+ Mất phương hướng: Bệnh nhân đột ngột mất phương hướng nghiêm trọng.

+ Rối loạn tri giác: Cũng có trường hợp không có ảo giác, mà thường là ảo giác kinh hoàng, thấy máu chảy, thấy xác chết, thấy người giết người, hoặc bị tấn công dữ dội. TÔI.

Có thể kèm theo lệnh thoại.

+ Rối loạn tư tưởng: Có thể có hoang tưởng cấp tính.

+ Rối loạn tâm trạng: Thường biểu hiện như cáu kỉnh, căng thẳng về cảm xúc, buồn bã và không hạnh phúc.

+ Rối loạn hành vi:

– Các hành động và cách cư xử thường có tính liên tục, vì vậy nhìn bề ngoài chúng khá gọn gàng.

– Những cử động và hành vi này thường bị ảnh hưởng bởi ảo giác, hoang tưởng và rối loạn tâm thần, khiến hành vi của bệnh nhân trở nên cực kỳ nguy hiểm: giết hại dã man, giết hại người thân hoặc hàng loạt người mà họ coi là kẻ thù.

– Trong cuộc tấn công, bệnh nhân đã phá hủy mọi thứ trước mặt một cách vô tri.

– Bệnh nhân tấn công người (sinh vật) và đồ vật (vật vô tri vô giác) một cách dã man như nhau (do mất phương hướng).

+ Suy giảm trí nhớ:

– Thường thì sự xáo trộn lúc chạng vạng kết thúc đột ngột, sau đó là một giấc ngủ sâu.

– Bệnh nhân không nhớ gì về những gì đã xảy ra trong cơn.

– Đối với hành vi phạm tội của chính họ, đôi khi rất nghiêm trọng, bệnh nhân có cùng thái độ đối với hành động của người khác, không phải của mình.

-Các dạng khác của Hội chứng Chạng vạng:

Rối loạn ý thức lúc hoàng hôn tiến triển về mặt lâm sàng mà không có ảo giác, ảo tưởng và rối loạn cảm xúc. Hội chứng biểu hiện ở các trạng thái sau:

+ Autowalk: Bệnh nhân vô tình điều hướng đường phố, đi tàu, trả lời các câu hỏi đơn giản và mọi thứ hoạt động như một cỗ máy. Người ngoài nhìn vào chỉ thấy đây là một kẻ lơ đãng, không tập trung vào một việc gì đó.

+ Mộng du hay chu kỳ nguyệt san: Thường xảy ra vào ban đêm, bệnh nhân đứng dậy, đi lại, thực hiện một số động tác tự động, sau đó lại đi ngủ. Nếu bệnh nhân bị cản trở trong trạng thái này, nó sẽ gây ra một chuyển động tấn công dữ dội. Khi bệnh nhân tỉnh dậy, anh ta không còn nhớ gì về các hành vi trong cơn.

Hội chứng hoàng hôn phổ biến hơn ở bệnh động kinh, chấn thương sọ não hoặc rối loạn thể chất nghiêm trọng của não.

Câu hỏi đánh giá

1. Hãy mô tả các loại ảo giác.

2. trục trặc?

3. Rối loạn chuyển động?

4. Rối loạn ý thức?

Tài liệu tham khảo

General Psychiatry and Psychiatry (2003), qĐnd Press.

pgs.ts Tiếng Đức Nâng cao – Nội quan cnbm

Xem thêm: Bạn Có Biết? Jav Là Viết Tắt Của Chữ Gì Code Là Gì

Related Articles

Back to top button